Cuộc sống công nghiệp trong thành phố khiến cho cuộc sống của đa số dân cư thành thị có thay đổi đáng kể nhất là vài năm trở lại đây tràng vị khang. Bia, rượu cộng với thức ăn chứa nhiều dầu, mỡ như phô-mai, lòng đỏ trứng, thịt, lạp xường và các chất béo khác được sử dụng quá nhiều và những cơn stress do công việc căng thẳng, bệnh tiểu đường và các thuốc ngừa thai chính là những yếu tố gây tăng nguy cơ bị Tai biến mạch máu não.
Tai biến mạch máu não vẫn luôn là vấn đề lớn của ngành Thần kinh học Việt Nam do số lượng tử vong do bệnh này luôn ở mức cao viem dai trang . Hãy cùng tìm hiểu về bệnh tai biến mạch máu não để cùng phòng và tránh.
1. Tai biến mạch não là gì?
Tai biến mạch não hay đột quỵ (stroke) là thuật ngữ chỉ các bệnh mạch máu não như thiếu máu não (Ischemia) do vữa xơ chít hẹp tắc nghẽn các động mạch não; chảy máu não (hemorrhagia) do các động mạch đó và các cục huyết khối nghẽn tắc tại gây vỡ mạch tạo ra. Ở vùng não bị thiếu máu, chảy máu tế bào thần kinh bị thương tổn thương hủy hoại, còn gọi là nhũn não. Hậu quả là các giác quan, các vùng cơ thể do vùng não bị thiếu máu, chảy máu chi phối cũng bị tổn thương hủy hoại tạo ra các triệu chứng bệnh lý như tê liệt nửa người, mù, điếc, nói ngọng, mất nói, ỉa đái không tự chủ,v.v…
Mỗi năm, nước ta có khoảng 200.000 người bị tai biến mạch não, trong đó khoảng 1000 người chết. Số người bị di chứng mù, liệt, tàn phế là rất cao, với những hệ lụy cho bản thân, gia đình và xã hội trong sinh sống, chăm nom, chữa trị. Tổ chức y tế thế giới xếp tai biến mạch não ở vị trí thứ hai trong các bệnh gây tử vong cao hiện nay.
2. Các triệu chứng thường thấy khi gặp tai biến
Nghẽn tắc mạch do xơ vữa động mạch
Là căn nguyên thông thường nhất của đột quỵ (stroke) thường có các triệu chứng: nhìn mờ, mất thị giác tạm thời một mắt, nói khó nói lắp, tê bại, ỉa đái không tự chủ, được quy thành 4 hội chứng sau:
- Tê bại (nhẹ) hoặc liệt nửa người 66%
- Rối loạn ngôn ngữ (nói khó nói lắp), tay chân lóng ngóng 20%
- Chỉ có các rối loạn cảm giác: tê, bỏng…10%
- Hội chứng thất điều nửa người (tay chân một bên rối loạn hiệp điều khi vận động đi lại, cầm nắm) 4%
Chảy máu não (Hemorrhagia)
Đau đầu và đau sau hố mắt dữ dội, cứng gáy, buồn nôn, co hoặc giãn đồng tử, liệt nửa người và nhanh chóng đi vào hôn mê. Bằng cách thăm khám hệ thống về thần kinh, các thày thuốc lâm sàng chuyên khoa sẽ xác định được vị trí nơi chảy máu.
3. Nguyên nhân gây tai biến
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là bệnh lý của lứa tuổi trung niên và người cao tuổi. Những người trên 55 tuổi sẽ có nguy cơ TBMMN, tuổi càng cao thì tỷ lệ TBMMN càng cao, ở nam giới sẽ dễ bị hơn ở nữ giới. Những người có các yếu tố nguy cơ bị TBMMN nhiều hơn là:
- Người bị huyết áp cao
- Người có các bệnh tim mạch như hẹp van 2 lá, rung nhĩ
- Người bị đái tháo đường
- Người béo phì tăng cân, rối loạn chuyển hóa, tăng mỡ máu
- Nghiện hút (cả thuốc lá, bia rượu)
- Phụ nữ vừa hút thuốc lại dùng thuốc tránh thai
- Làm việc dưới áp lực cao vê tinh thần thể lực, có các sang chấn về tinh thần kinh lớn.
4. Các giải pháp cho TBMMN
Như đối với các bệnh thường gặp theo lứa tuổi và các yếu tố nguy cơ chưa bị bệnh béo phì thì chủ động dự phòng, nếu có bệnh phải được chẩn đoán điều trị nhanh chóng kịp thời. Các chuyên gia về bệnh học thần kinh đã đề xuất các giải pháp rất cụ thể có hiệu quả đối với TBMMN.
Phòng tránh các yếu tố nguy cơ:
Dự phòng và điều trị tích cực có hiệu quả chắc chắn các bệnh cao huyết áp, đái tháo đường, tăng mỡ máu… Chống béo phì tăng cân, hạn chế việc sử dụng rượu thuốc, điều chỉnh tập quán sinh hoạt làm việc nghỉ ngơi phù hợp.
Điều trị dự phòng:
Sử dụng các thuốc bảo vệ và dinh dưỡng toàn hệ thần kinh mạch máu:
- Các thuốc bổ sung cơ chất (làm tăng tính đàn hồi thành mạch và lưu thông máu) như các chế phẩm ngân hạnh, bạch quả, đậu tương là tânkan, natopes, cerebrolysin…
- Các thuốc tác động qua cơ chế tuần hoàn (mà y học dân tộc gọi là bổ huyết, hoạt huyết, thông mạch, tán ứ) như sibelium, caviton, stugeron…
- Các thuốc chống đông máu, chống kết dính tiểu cầu và tiểu sợi huyết như aspirin, clopidogrel. Trong nhóm thuốc này hiện có Panax notoginseng saponin dạng bột pha tiêm và viên nang được tách chiết từ nhân sâm.
- Các thuốc điều hòa lưu thông máu (Haemorrheologicals) như pentoxifylline, naftidrofuryl oxalate, viên bổ khí huyết, viên tỏi nghệ trà dogarlic đã được giới thiệu trong cẩm nang sử dụng thuốc MIMS lưu hành trong những năm gần đây.
5. Liên quan đến CM3
Nhân nói về điều trị dự phòng TBMMN, còn có một thuốc đông dược đã được nghiên cứu ứng dụng rộng trong khoảng 10 năm trở lại đây là viên CM3. Thuốc được làm từ 8 vị thuốc bổ huyết hoạt huyết bổ khí dưỡng âm thông mạch, kế thừa chọn lọc từ các đơn thuốc cổ truyền. Theo cách điều trị dự phòng nêu trên, viên CM3 vừa là thuốc bổ sung cơ chất, tác động qua cơ chế tuần hoàn, chống đông máu, chống kết dính tiểu cầu làm tiêu sợi huyết và điều hòa lưu thông khí huyết. Viên CM3 theo y lý và thực tiễn chứng tỏ là một thuốc có hiệu quả lâu dài theo dự phòng điều trị các bệnh mạch não như thiểu năng tuần hoàn não, phòng ngừa và điều trị TBMMN, bệnh đau đầu migraine, đau thắt ngực thiểu năng mạch vành thiếu dưỡng cơ tim, suy tim mạch ngoại vi, trĩ…
BS bệnh thần kinh. Nguyễn Sĩ Viễn
Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn khoa Y học dân tộc Quân Y Viện 103 - Học Viện Quân Y
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Nội - Viện Y học Cổ truyền Quân Đội
Chuyên viên Nội Khoa Viện Y học Cổ truyền
Liên hệ quảng cáo
Yahoo: langtukhongtingdau_900
Top
Comments[ 0 ]